TÌM KIẾM OPAC
BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH
LỊCH PHỤC VỤ

 

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Thân thế sự nghiệp và những thành tích của đồng chí Vũ Văn Hiếu.

          Đồng chí Vũ Văn Hiếu, Bí thư Đặc khu ủy đầu tiên của Khu mỏ Quảng Ninh đã hiến dâng trọn cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc; là tấm gương sáng ngời về lòng trung thành vô hạn với lý tưởng cộng sản; lẽ sống và phẩm chất cách mạng của đồng chí đã trở thành biểu tượng “Sống vì Đảng, mà chết cũng không rời Đảng” để chúng ta học tập, noi theo.Chính vì thế, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã ký quyết định số 1674/QĐ-CTN về việc “Truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân” cho Liệt sĩ Vũ Văn Hiếu, nguyên Bí thư Đặc khu uỷ Khu mỏ Quảng Ninh.
          Lễ đón nhận danh hiệu "Anh hùng Lực lượng vũ trang (LLVT) nhân dân" lần thứ hai cho LLVT tỉnh Quảng Ninh; truy tặng danh hiệu "Anh Hùng LLVT nhân dân" cho liệt sĩ Vũ Văn Hiếu, nguyên Bí thư Đặc khu uỷ Khu mỏ Quảng Ninh sẽ là dịp để ôn lại truyền thống cách mạng vẻ vang của quân và dân đất Mỏ anh hùng, tri ân những anh hùng liệt sĩ đã hy sinh quên mình vì Tổ quốc; từ đó tiếp tục phấn đấu vươn lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
         Nhân dịp này, Thư viện tỉnh Quảng Ninh xin giới thiệu về thân thế sự nghiệp và những thành tích của đồng chí Vũ Văn Hiếu.
Sơ lược lý lịch đồng chí Vũ Văn Hiếu
        Đồng chí Vũ Văn Hiếu sinh ngày 20 tháng 3 năm 1907, quê quán: ấp Văn Định, xã Quần Phương Thượng, tổng Quần Phương, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Chức vụ: Bí thư Đặc khu uỷ đầu tiên Khu mỏ Quảng Ninh. Đồng chí tham gia cách mạng trước tháng 8 năm 1945 và hi sinh 1943.
          Đồng chí Vũ Văn Hiếu, người Bí thư Đặc khu uỷ đầu tiên Khu mỏ Quảng Ninh đã hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc. Cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí là tấm gương sáng ngời về lòng trung thành vô hạn với lý tưởng cộng sản. Lẽ sống và phẩm chất cách mạng của đồng chí đã trở thành biểu tượng “Sống vì Đảng mà chết cũng không rời Đảng” để chúng ta học tập noi theo
Thành tích đặc biệt của đồng chí Vũ Văn Hiếu
          Đồng chí Vũ Văn Hiếu là người cộng sản của cách mạng Việt Nam, đã cống hiến trọn đời mình cho lý tưởng cộng sản cao đẹp, cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng ta và của nhân dân ta. Cuộc đời hoạt động của đồng chí là một tấm gương sáng chói về phẩm chất cao quý của người chiến sĩ cộng sản.
         Ngày 29/9/1928, kỳ bộ Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội Bắc Kỳ quyết định cử cán bộ, hội viên đi “Vô sản hóa” ở các nhà máy, hầm mỏ, đồn điền…, đến Hòn Gai để thực hiện “Vô sản hóa” thời kỳ này có các đồng chí Nguyễn Văn Xứng (tức Lê Thanh Nghị), Nguyễn Khắc Khang (tức Lê Quốc Trọng), các đồng chí này đã giác ngộ lý tưởng cộng sản, từng bước giúp cho đồng chí Vũ Văn Hiếu hiểu về tư tưởng cách mạng của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, những điểm sơ lược về chủ nghĩa Mác-Lênin lúc bấy giờ.
          Tháng 10 năm 1929, đồng chí được Chi bộ Đông Dương cộng sản Đảng ở Hòn Gai giao nhiệm vụ thử thách và đến tháng 11 năm 1929 đồng chí trở thành người đảng viên cộng sản, bí danh là Sơn, sinh hoạt tại Chi bộ Hòn Gai và được giao nhiệm vụ xây dựng cơ sở ở Hà Tu - Núi Béo. Đồng chí chuyển từ nghề dạy học sang thợ sửa chữa máy bơm để có điều kiện đi sát công nhân, từng bước giác ngộ quần chúng đưa họ vào những tổ chức đơn giản, dẫn dắt quần chúng đấu tranh từ thấp đến cao. Đồng chí đã vận động anh em công nhân xóa bỏ nạn cờ bạc, lập ra hội “chơi họ” ở nhiều nơi như: Hà Tu, Hà Lầm, Núi Béo…, đồng chí còn vận động anh em lập ra tổ tập võ, tổ sinh hoạt văn nghệ, thông qua các tổ chức đơn giản ấy, đồng chí đã khéo léo vận động mọi người đọc sách báo, học chữ quốc ngữ… chỉ sau một thời gian ngắn, công nhân vùng mỏ Hà Tu đã dần bỏ được thói xấu như cờ bạc, rượu chè, nghiện hút…
         Điều quan trọng nhất đối với đồng chí lúc này là tuyên truyền giáo dục cho thợ mỏ hiểu rõ kẻ thù giai cấp và kẻ thù dân tộc, thấy được vai trò lịch sử của giai cấp công nhân; từ đó dần dần đưa những người ưu tú vào tổ chức cách mạng. Bên cạnh đó đồng chí còn khéo léo giúp một số người thuộc tầng lớp giám thị, cai ký thấy rõ kẻ thù chung của dân tộc, vận động họ ủng hộ cách mạng. Trong thời gian này đồng chí Vũ Văn Hiếu đã xây dựng được ở Hà Tu một số cơ sở trong công nhân mỏ, trong đó hạt nhân là những công nhân trung kiên như Phan Dương Chuyên, Vũ Đình Bối…, đồng chí Phan Dương Chuyên đã được kết nạp vào Đông Dương cộng sản Đảng và một Chi bộ Đông Dương cộng sản Đảng đã được thành lập ở mỏ Hà Tu dưới sự lãnh đạo của đồng chí Vũ Văn Hiếu.
          Bên cạnh công tác tuyên truyền giác ngộ công nhân, xây dựng tổ chức Đảng, đồng chí còn lo khâu in và phân phát truyền đơn của chi bộ, những tờ truyền đơn mang nội dung tuyên truyền cách mạng qua đồng chí và những quần chúng trung kiên đã len lỏi vào tận những mái nhà tranh của lán thợ, thức tỉnh quần chúng đứng lên đấu tranh.
         Ngày 3 tháng 2 năm 1930, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời, ở khu mỏ cuối tháng 2 năm 1930, đồng chí Nguyễn Văn Cừ, đại diện Xứ ủy Bắc Kỳ, đã thành lập Chi bộ Đảng cộng sản Việt Nam ở mỏ Mạo Khê, sau đó các Chi bộ Đảng cộng sản Việt Nam ở Hòn Gai, Cẩm Phả, Cửa Ông… cũng lần lượt được thành lập; Chi bộ Đảng cộng sản Việt Nam ở Hòn Gai do đồng chí Nguyễn Khắc Khang (tức Lê Quốc Trọng), Vũ Văn Hiếu, Trần Văn Nghệ, Nguyễn Văn Xứng (tức Lê Thanh Nghị)… do đồng chí Nguyễn Khắc Khang làm bí thư, đồng chí Vũ Văn Hiếu được phân công phụ trách công tác in ấn tài liệu, công tác kinh tế và trực tiếp phụ trách cơ sở ở Hà Tu. Trong một thời gian ngắn, dưới sự lãnh đạo của Chi bộ Đảng cộng sản Việt Nam ở Hòn Gai, hầu hết các xí nghiệp quan trọng như bến cảng, nhà sàng, nhà máy cơ khí, nhà máy điện cọc 5, các mỏ Hà Tu, Hà Lầm, Cái Đá… đều hình thành các Chi bộ, hoặc có đảng viên hoạt động. Cùng với đó là các tổ chức quần chúng của Đảng cũng được hình thành với nhiều hình thức phong phú, nhằm tập hợp đông đảo quần chúng như Công hội đỏ, Thanh niên cộng sản đoàn, Hội phụ nữ, Học sinh đoàn…;
          Trước tình hình ấy, tháng 3 năm 1930, Ban cán sự mỏ Hòn Gai được thành lập gồm các đồng chí Nguyễn Khắc Khang (tức Lê Quốc Trọng), Vũ Văn Hiếu, Trần Văn Nghệ, do đồng chí Nguyễn Khắc Khang làm bí thư, đồng chí Vũ Văn Hiếu là thường trực và chuyển từ Hà Tu ra Hòn Gai làm công nhân tại nhà máy than luyện và nhà máy sàng Hòn Gai để lãnh đạo số đông công nhân nữ ở đây đấu tranh đòi tăng lương, chống cúp phạt, đánh đập. Khẩu hiệu chống đánh đập cúp phạt của Ban cán sự và đồng chí Vũ Văn Hiếu đề ra đã đánh trúng vào mâu thuẫn gay gắt giữa công nhân và bọn chủ mỏ; khẩu hiệu đó đã có sức động viên lôi cuốn công nhân mỏ đứng lên đấu tranh trong suốt thời kỳ 1930 - 1931.
         Tháng 4 năm 1930, Đảng ủy mỏ Hòn Gai - Cẩm Phả và Đảng ủy Uông Bí - Vàng Danh được thành lập; đồng chí Vũ Văn Hiếu làm Bí thư Đảng ủy mỏ Hòn Gai - Cẩm Phả, đồng chí và Đảng ủy vừa thành lập đã bắt tay ngay vào việc chuẩn bị cho một cao trào đấu tranh mạnh mẽ trong toàn khu mỏ, mở đầu cho cao trào đấu tranh là cuộc bãi công ngày 8 tháng 4 năm 1930 của công nhân nhà sàng Cửa Ông chống đuổi thợ, chống đánh đập, giảm giờ làm ca đêm, tăng tiền lương 20%, cuối cùng bọn chủ mỏ phải chấp nhận tăng lương cho công nhân, cuộc đấu tranh thắng lợi đã cổ vũ phong trào công nhân toàn khu mỏ.
+ Cuộc đình công của chị em công nhân nhà sàng Hòn Gai chống chủ mỏ và tay sai đánh chửi, cúp phạt đòi trả lương đúng thời hạn và giảm giờ làm. Phụ nữ tiểu thương Hòn Gai bãi thị đòi nhà cầm quyền thực dân giảm thuế môn bài.
+ Rải truyền đơn, dán áp phích ở Cẩm Phả - Cửa Ông phản đối đế quốc Pháp tàn sát các chiến sĩ yêu nước, sau vụ bạo động thất bại ở Yên Bái tháng 2 năm 1930.
+ Đồng chí đã chỉ đạo và tổ chức thắng lợi việc treo cờ đỏ búa liềm trên núi Bài Thơ ngày 1 tháng 5 năm 1930, đây là lần đầu tiên công nhân mỏ kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1-5, ngày hội của giai cấp vô sản trên toàn thế giới. Đợt đấu tranh ngày 1 tháng 5 năm 1930 là một bước ngoặt đối với phong trào cách mạng năm 1930 và năm 1931 ở khu mỏ. Việc tổ chức thắng lợi hàng loạt các hoạt động đấu tranh với sự phối hợp nhịp nhàng, chặt chẽ trên địa bàn rộng lớn toàn khu mỏ đã chứng minh khả năng chỉ đạo thống nhất, tập trung của Đảng ủy mỏ Hòn Gai - Cẩm Phả và đồng chí Vũ Văn Hiếu.
          Đêm ngày 17 tháng 5 năm 1930, do một cán bộ tên là Trần Văn Tr đầu hàng địch, khai báo và mật thám Pháp đã bắt đồng chí Vũ Văn Hiếu và 4 đảng viên khác hoạt động ở Hòn Gai. Mặc dù bị bắt một cách bất ngờ nhưng đồng chí Vũ Văn Hiếu rất bình tĩnh, giữ vững tinh thần cho anh em cùng bị bắt và những người còn lại, bất chấp đòn tra tấn dã man của bọn mật thám, đồng chí Vũ Văn Hiếu một mực không khai, không nhận một điều gì kẻ thù gán cho mình. Không có đủ chứng cứ bọn mật thám mỏ bắt buộc phải trả tự do cho đồng chí.
          Sau khi ra khỏi nhà giam, đồng chí Vũ Văn Hiếu bắt tay vào việc khôi phục cơ sở, gây dựng lại phong trào; không quản ngại khó khăn nguy hiểm, đồng chí bí mật móc nối với một số đồng chí trong Đảng ủy mỏ, cùng với đồng chí Nguyễn Công Hòa được cấp trên điều từ Hải Phòng sang tham gia Đảng ủy Hòn Gai - Cẩm Phả để gây dựng lại và phát triển phong trào. Mặc dù địch kiểm soát, khủng bố gắt gao, phong trào cách mạng ở khu mỏ vẫn được duy trì và phát triển, cơ sở Đảng và các tổ chức quần chúng được phục hồi, truyền đơn vẫn được rải trong các tầng lò, nhà máy mà kẻ địch không dò la, phát hiện được.
          Tháng 9 năm 1930, cấp trên quyết định tách Đảng ủy Hòn Gai - Cẩm Phả thành hai Đảng ủy, đồng chí Vũ Văn Hiếu được điều ra Cẩm Phả làm bí thư Đảng ủy Cẩm Phả - Cửa Ông để củng cố phong trào nơi đây bị địch khủng bố dữ dội. Mặc dù bị địch phá hoại nặng vào giữa tháng 5 năm 1930, nhưng đến đầu tháng 10 năm 1930 đồng chí Vũ văn Hiếu đã lãnh đạo và chỉ đạo phục hồi nhanh chóng cơ sở Đảng và các tổ chức quần chúng ở vùng Cẩm Phả - Cửa Ông, số lượng đảng viên ở Cẩm Phả đã lên tới 30 đồng chí và có 23 hội viên Công hội đỏ, đó là những nhân tố quan trọng để duy trì phong trào cách mạng ở vùng Cẩm Phả - Cửa Ông.
           Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ nhất (tháng 10 năm 1930) đã quyết định thành lập ở Khu mỏ một khu đặc biệt lấy tên là Đặc khu Đông Triều- Hòn Gai - Cẩm Phả; cuối tháng 10 năm 1930, đồng chí Phạm Văn Ngọ là Xứ ủy viên Xứ ủy Bắc Kỳ trực tiếp chỉ đạo việc hình thành Đảng bộ Đặc khu ủy mỏ Đông Triều - Hòn Gai - Cẩm Phả, Ban chấp hành Đặc khu gồm 3 đồng chí: đồng chí Vũ Văn Hiếu, đồng chí Phạm Gia và đồng chí Trần Văn Nghệ, đồng chí Vũ Văn Hiếu được chỉ định làm Bí thư và đồng chí đã trở thành người Bí thư Đặc khu ủy đầu tiên của khu mỏ Quảng Ninh.
          Sau khi thành lập Đảng bộ Đặc khu, đồng chí Vũ Văn Hiếu cùng các đồng chí trong Đặc khu ủy tập trung chỉ đạo nhiệm vụ trung tâm của Đảng bộ lúc này là củng cố kiện toàn các tổ chức cơ sở Đảng và tổ chức quần chúng. Cuối năm 1930, tình hình cách mạng Việt Nam có bước chuyển quan trọng. Trước sức mạnh của cao trào đấu tranh trong cả nước mà đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh, thực dân Pháp ra sức đàn áp phong trào cách mạng một cách đẫm máu. Ở khu mỏ, chính quyền thực dân và bọn chủ mỏ Pháp điên cuồng tấn công vào các cơ sở Đảng và tổ chức quần chúng, từ tháng 10 đến tháng 12 năm 1930, chúng đã bắt và trục xuất ra khỏi khu mỏ 26 đảng viên và 14 hội viên công hội đỏ; nhận thức được tình hình đã thay đổi, chấp hành chỉ thị của Trung ương Đảng và của Xứ ủy, đồng chí Vũ Văn Hiếu kịp thời chỉ đạo các cơ sở Đảng đi vào hoạt động bí mật. Đặc khu ủy và đồng chí chủ trương tổ chức Đảng phải rất tinh gọn, bảo đảm nguyên tắc bí mật, phương pháp và hình thức đấu tranh phải phù hợp với tình hình mới, tránh manh động, bộc lộ lực lượng. Nhờ chủ trương đúng đắn ấy, Đặc khu ủy mỏ đã giúp cho các cơ sở Đảng được hồi phục. Mặc dù trước hành động khủng bố trắng của kẻ địch, cuối tháng 12 năm 1930, đảng viên ở khu mỏ Quảng Ninh vẫn còn 38 đồng chí và 29 hội viên công hội đỏ.
          Đầu tháng 11 năm 1930, Đặc khu ủy mỏ và đồng chí đã phát động phong trào đấu tranh toàn khu mỏ để kỷ niệm lần thứ 13 Cách mạng tháng Mười Nga. Truyền đơn, khẩu hiệu và cờ đỏ búa liềm xuất hiện ở khắp các địa bàn Hòn Gai, Mạo Khê, Vàng Danh, Cẩm Phả.
Hưởng ứng lời kêu gọi của Trung ương Đảng về việc ủng hộ phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, Đặc khu ủy mỏ và đồng chí đã chỉ đạo các cơ sở Đảng rải truyền đơn ở Hòn Gai, Cẩm Phả, Hà Tu… kêu gọi quần chúng đứng lên đấu tranh “ủng hộ Nghệ Tĩnh đỏ”, “Phản đối đế quốc Pháp tàn sát dã man công nông Nghệ Tĩnh”. Hoạt động đó giúp cho quần chúng thấy rõ tinh thần anh dũng, kiên cường trước kẻ thù của cán bộ, đảng viên khu mỏ và làm cho quần chúng càng thêm vững tin vào Đảng…
          Toàn bộ hoạt động của đồng chí Vũ Văn Hiếu và Đặc khu ủy mỏ lúc này là tập trung vào việc chống lại những âm mưu và hành động khủng bố, phá hoại cách mạng của kẻ thù; đồng thời chuẩn bị về tư tưởng và tổ chức cho toàn Đảng bộ ứng phó với tình hình ngày một gay gắt, phức tạp hơn.
          Cuối năm 1930, đầu năm 1931, tổ chức Đảng và tổ chức quần chúng ở khu mỏ đang dần dần được khôi phục. Do thiếu cảnh giác nên đã để Bùi Huy Thoại (tức Vương, tức Văn) biến thành một tên phản bội và khi phát hiện được sự phản bội của hắn đã không kịp thời xử lý. Ngày 9 tháng 2 năm 1931, đồng chí Vũ Văn Hiếu cùng một số đồng chí khác bị địch bắt ngay tại cơ quan Đảng ủy Cẩm Phả - Cửa Ông.
          Biết rõ đồng chí Vũ Văn Hiếu là Bí thư Đặc khu ủy mỏ, bọn mật thám Pháp dùng mọi ngón đòn hiểm ác, thâm độc nhất hòng moi lấy lời khai của đồng chí, nhưng bất chấp mọi ngón đòn tàn bạo, đồng chí Vũ Văn Hiếu vẫn nêu cao tinh thần cách mạng, giữ vững khí tiết của người cộng sản, không moi được lời khai của đồng chí, bọn mật thám Pháp đành đưa đồng chí lên sở mật thám Hải Phòng, sau đó là sở mật thám Bắc Kỳ tại Hà Nội.
          Noi gương đồng chí Vũ Văn Hiếu, nhiều đảng viên cộng sản bị địch bắt đã giữ vững lòng trung thành với Đảng, không khai báo những lời có hại cho cách mạng, tiêu biểu cho tinh thần trung kiên ấy là nữ đồng chí Nguyễn Thị Lưu, Trần Hỷ, Nguyễn Huy Sán, Bùi Đắc Thanh…
Hơn ba tháng tra khảo, cả một bộ máy đàn áp, khủng bố dã man với nhiều mưu kế thâm độc đã không khuất phục được đồng chí Vũ Văn Hiếu, không moi được ở đồng chí một lời có hại cho Đảng, cho cách mạng, cho đồng chí, đồng bào mình. Ngày 13 tháng 5 năm 1931, thực dân Pháp đưa đồng chí Vũ Văn Hiếu ra xử tại Hội đồng Đề hình Hà Nội cùng với hơn 40 cán bộ, đảng viên khác; không run sợ trước sự đe dọa của chính quyền thực dân, đồng chí Vũ Văn Hiếu cùng nhiều chiến sĩ cộng sản khác đã sử dụng ngay tòa án của đế quốc để vạch mặt kẻ thù và tuyên truyền cho chủ nghĩa Cộng sản, trước kẻ thù đồng chí dõng dạc khẳng định: “Tôi giữ lời khai trước đây của tôi” và tuyên bố đanh thép: “Tôi có chân trong Đảng cộng sản vì tôi xét ra chỉ có Đảng cộng sản là có thể cứu nhân loại khỏi vòng lầm than”, cuối cùng tòa án thực dân Pháp đã liệt đồng chí Vũ Văn Hiếu vào “hạng lãnh tụ có huấn luyện trong các trường”, “là loại nguy hiểm nhất”…, chúng đã kết án đồng chí 20 năm tù cầm cố và đầy ra nhà lao Côn Đảo.
         Ngày 8 tháng 7 năm 1931, đồng chí Vũ Văn Hiếu bị đầy ra Côn Đảo và bị giam ở Banh 2, cùng các đồng chí: Nguyễn Văn Cừ, Hạ Bá Cang (tức Hoàng Quốc Việt), Nguyễn Khắc Khang (tức Lê Quốc Trọng)…, hàng ngày đồng chí và các đồng chí đảng viên Đảng cộng sản khác luôn bị bọn cai tù, gác ngục đánh đập tàn nhẫn. Ở trong tù đồng chí Vũ Văn Hiếu vẫn nêu cao được tinh thần kiên cường của người đảng viên cộng sản, lao vào cuộc đấu tranh mới. Tuy sức yếu nhưng đồng chí đã hăng hái tham gia các cuộc đấu tranh như: đấu tranh đòi mở cửa khám để có thêm không khí, đấu tranh đòi bỏ lệ đánh tù khi ra ăn cơm, đấu tranh đòi được ra sân chơi…, đồng chí còn được các đồng chí lãnh đạo phân công vào tổ may vá, chuyên sửa, vá lại quần áo giúp đỡ anh em đau ốm.
Cùng với các đồng chí Hạ Bá Cang (tức Hoàng Quốc Việt), Nguyễn Đức Cúc (tức Nguyễn Văn Linh), Lương Khánh Thiện, Nguyễn Văn Tây, Vũ Thiện Tấn… đồng chí đã tham gia tổ phục vụ học tập lý luận Mác-Lênin, những chỉ thị, nghị quyết của Đảng và những kinh nghiệm hoạt động cách mạng, đồng chí được phân công bảo vệ tài liệu, chép và dịch sách kinh điển từ tiếng Pháp ra tiếng Việt…; ngoài ra đồng chí còn được Ban lãnh đạo tù nhân giao nhiệm vụ giảng dạy và phụ trách một lớp học văn hóa, với tình cảm chân thành, tận tình giúp đỡ anh em, đồng chí đã để lại cho các đồng chí mình những tình cảm sâu sắc.
          Tháng 5 năm 1936, Mặt trận nhân dân Pháp thắng cử và Chính phủ phái tả lên cầm quyền, ở Việt Nam phong trào đấu tranh đòi quyền dân chủ, dân sinh của nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã phát triển mạnh mẽ. Nhờ sức mạnh đấu tranh của nhân dân Pháp và nhân dân ta trong cả nước đã buộc bọn thực dân Pháp ở Đông Dương phải thả một số tù chính trị, tháng 11 năm 1936, đồng chí Vũ Văn Hiếu được trả tự do cùng gần 200 anh em khác, trong đó có các đồng chí: Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Lê Thanh Nghị, Hạ Bá Cang (tức Hoàng Quốc Việt)…
Ra tù được ít ngày, đồng chí đã kịp thời bắt liên lạc với số anh em tù ở Côn Đảo được trả tự do trong đợt trước và quyết định ra mỏ tìm lại cơ sở cũ, tuy nhiên mật thám Pháp đã không cho đồng chí đặt chân trên đất mỏ, đồng chí phải trở lại Hà Nội, đến đây đồng chí đã bắt liên lạc được với đồng chí Nguyễn Văn Cừ và một số đảng viên, và hoạt động trong thành phố, đồng chí được phân công phụ trách công tác vận động công nhân ở Hà Nội và liên lạc với các tổ chức Đảng ở một số tỉnh miền Bắc và miền Trung.
           Đầu năm 1938, đồng chí đến làm ở hiệu giặt là Mai Hải tại số nhà 77 phố hàng Giấy, cạnh chợ Đồng Xuân, tại đây, đồng chí công tác cùng các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Lương Khánh Thiện, Triệu Thị Đỉnh, Tạ Thị Đường… Đây là một cửa hàng do Đảng tổ chức để làm địa điểm liên lạc cho cán bộ, đảng viên, đồng thời nó cũng là cơ sở làm kinh tế của Đảng, để dễ che mắt địch và dễ dàng đi vào các khu công nhân, đồng chí Vũ Văn Hiếu đóng vai người ghi biên lai, nhận và trả quần áo tại nhà của khách hàng. Những kinh nghiệm công vận ở khu mỏ ngày trước đã giúp đồng chí nhanh chóng xây dựng được cơ sở cách mạng ở một số xí nghiệp trong nội thành.
Trước tình hình phong trào cách mạng ở miền Nam còn gặp khó khăn, đồng chí Tổng bí thư Nguyễn Văn Cừ đã điều đồng chí Vũ Văn Hiếu và các đồng chí Nguyễn Đức Cúc (tức Nguyễn Văn Linh), Vũ Thiện Tấn vào Nam công tác. Đồng chí đã cùng các đồng chí Nguyễn Đức Cúc (tức Nguyễn Văn Linh), Vũ Thiện Tấn, Nguyễn Văn Tây… tham gia chỉ đạo tờ Đông Phương tạp chí với danh nghĩa là đặc phái viên. Thông qua đó, đồng chí truyền đạt nghị quyết của Trung ương Đảng đến các tổ chức hoạt động công khai ở Cần Thơ, Tây Ninh, Sài Gòn… Khi rảnh việc đồng chí tranh thủ tâm sự, tuyên truyền chủ nghĩa Mác- Lênin cho anh em, với phong cách sống giản dị, chân thành, gần gũi cơ sở, công việc của Đảng giao cho đồng chí luôn hoàn thành tốt đẹp.
          Ngày 1 tháng 9 năm 1939, chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra, thực dân Pháp trở mặt phát xít, đàn áp phong trào cách mạng nước ta, trước tình hình mới Đảng ta chủ trương đưa mọi tổ chức vào hoạt động bí mật. Tháng 9 năm 1939, đồng chí Tổng bí thư Đảng Nguyễn Văn Cừ đã vào Nam trực tiếp làm việc tại cơ quan Trung ương ở Hóc Môn - Bà Điểm (Gia Định). Đồng chí Nguyễn Văn Cừ và đồng chí Lê Duẩn đã quyết định tăng cường cho cơ quan Trung ương các đồng chí: Vũ Văn Hiếu, Vũ Thiện Tấn, Trần Quỳnh…. Đồng chí Vũ Văn Hiếu được giao nhiệm vụ giúp việc cho đồng chí Tổng bí thư Đảng Nguyễn Văn Cừ, chuẩn bị các văn bản cho đồng chí Tổng bí thư làm việc, đồng chí còn đi xuống các địa phương để nắm tình hình diễn biến cơ sở và truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Trung ương.
          Cuối năm 1939, cách mạng Việt Nam đang đi vào giai đoạn dự bị cho một cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị Trung ương lần thứ 6 từ ngày 6 đến ngày 8 tháng 11 năm 1939 do đồng chí Nguyễn Văn Cừ chủ trì, lúc này đồng chí Vũ Văn Hiếu được giao nhiệm vụ phụ trách cơ quan Văn phòng Trung ương Đảng.
          Đêm ngày 17 rạng ngày 18 tháng 1 năm 1940, đồng chí Vũ Văn Hiếu bị mật thám Pháp bắt cùng các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Lê Duẩn, Vũ Thiện Tấn, Phạm Chương, Phan Văn Voi…; tuy bị bắt bất ngờ nhưng đồng chí Vũ văn Hiếu vẫn không nao núng, bình tĩnh suy nghĩ đến trách nhiệm của mình là phải bảo vệ Đảng, nhất là bảo vệ các đồng chí lãnh đạo chủ chốt, do vậy vừa bị đưa vào bốt Ka-ti-na đồng chí đã kịp nhắn cho đồng chí Nguyễn Văn Cừ và đồng chí Lê Duẩn: “Tôi đã nhận tài liệu địch lấy được là của tôi, địch có đánh thì tôi chịu, tôi không khai cho các đồng chí đâu. Các đồng chí cứ chối hết đi. Tôi chịu đòn, chịu chết thay cho các đồng chí để các đồng chí sống mà hoạt động cho Đảng”. Mặc dù bị địch tra tấn rất dã man, có ngày bị chúng đánh chết đi, sống lại tới vài ba lần, nhưng đồng chí rất lạc quan tin tưởng yêu đời, cứ mỗi lần mỗi lần bị đánh ngất đi, khi tỉnh dậy anh lại động viên đồng chí mình: “Mặc nó đánh, mày cứ hát tao nghe”. Đó là nhân sinh quan và lẽ sống cao đẹp của một chiến sĩ cộng sản được rèn luyện trong lò lửa cuộc đấu tranh cách mạng.
           Tám tháng tra tấn ròng rã nhưng không khuất phục được các chiến sĩ cách mạng, giặc Pháp phải đưa đồng chí Vũ Văn Hiếu ra xét xử cùng với một số đồng chí khác, đối với đồng chí Vũ Văn Hiếu, chúng không có đủ chứng cứ để kết vào loại trọng tội, tháng 9 năm 1940, tòa tiểu hình Sài Gòn xử và kết án đồng chí 5 năm tù lưu đày, tháng 10 năm 1940, tòa án binh thường trực Sài Gòn lại đưa đồng chí ra xử tiếp, chúng lại kết án thêm 5 năm lưu đày cộng vào án cũ. Đầu năm 1941, đồng chí Vũ Văn Hiếu lại bị thực dân Pháp đày ra Côn Đảo lần thứ hai, đồng chí bị giam ở Banh 2 cùng các đồng chí Lê Duẩn, Nguyễn Văn Cúc (tức đồng chí Nguyễn Văn Linh), Nguyễn Tạo, Phan Văn Voi…
           Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ (23/11/1941) đã làm rung chuyển cả nền móng của chế độ thuộc địa, khiến bọn thực dân Pháp ở Côn Đảo vừa lo sợ vừa điên cuồng khủng bố trả thù, vừa nơm nớp lo sợ. Càng lo sợ chúng càng khủng bố tàn bạo tù nhân và áp dụng một chế độ sinh hoạt rất khắc nghiệt, tàn nhẫn, vì vậy các bệnh kiết lỵ, ho lao, ghẻ lở… phát triển. Ra Côn Đảo một thời gian, đồng chí Vũ Văn Hiếu bị bệnh lao tái phát, hành hạ. Thương đồng chí, đồng chí Phan Văn Voi và các đồng chí khác dồn hết quà cho đồng chí Hiếu, mặc dù thấy mình ốm đau, nhưng còn bao đồng chí khác cũng đau ốm như mình, tuy số quà ít ỏi, đồng chí vẫn đưa lại cho các đồng chí của mình một nửa số trứng gà, trái ớt… ăn để sống và phục vụ cho Đảng, cho cách mạng.
           Biết mình không sống nổi vì đã kiệt sức khi bị địch đánh đập và hành hạ tàn nhẫn, bệnh tật dày vò, được bên ngoài gửi vào cho một cái áo, đồng chí quyết định sẽ trao áo lại cho đồng chí mình. Tranh thủ khi đồng chí Lê Duẩn đến gần, đồng chí đã cởi chiếc áo mình đang mặc đưa cho đồng chí Lê Duẩn và nói: “Tôi sắp chết rồi, tôi nghĩ mãi mà không biết làm cái gì để phục vụ Đảng đến phút cuối cùng, tôi có chết trần truồng cũng không sao, áo đây đồng chí mặc lấy để sống mà làm việc cho Đảng”. Đồng chí Lê Duẩn từ chối, nhưng đồng chí Vũ Văn Hiếu vẫn khăng khăng không chịu, đồng chí bảo: “Tôi nghĩ kỹ rồi, chỉ còn việc này là tôi còn cống hiến được cho Đảng, sao đồng chí không nhận”. Hành động của đồng chí Vũ Văn Hiếu như vậy thật cao cả, trao áo cho đồng chí của mình, anh Hiếu muốn trao lại cho đồng đội sự nghiệp cách mạng đang dang dở và gửi gắm niềm tin sắt đá vào thắng lợi của Đảng.
         Và đồng chí Vũ Văn Hiếu, người chiến sĩ cộng sản ấy đã trút hơi thở cuối cùng vào đầu năm 1943 khi mới 36 tuổi đời tại nhà tù Côn Đảo, song sự hy sinh ấy đã trở thành tài sản quý báu trong lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ, nhân dân Quảng Ninh.
                                               Theo: BAN TUYÊN GIÁO TỈNH ỦY QUẢNG NINH

Tin khác
TIN MỚI
HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
VIDEO GIỚI THIỆU
THÔNG TIN THỊ TRƯỜNG
Thời tiết
BÌNH CHỌN

Đánh giá của bạn về website TVT Quảng Ninh


  Dễ sử dụng và có ích
  Dễ sử dụng
  Khó sử dụng